Home Kiến thức cơ bản Sự khác nhau giữa kế hoạch hưu trí của Canada với Mỹ

Sự khác nhau giữa kế hoạch hưu trí của Canada với Mỹ

144
0
Thay đổi thói quen chi tiêu để tạo nên tài chính vững mạnh và sự giầu có

Chính phủ Canada và Mỹ cung cấp nhiều dịch  vụ khác nhau dành cho việc lập kế hoạch hưu trí và dành cho những người đã nghỉ hưu. Tuy nhiên, nhìn chung, người về hưu ở Canada thấy cuộc sống khi về hưu của mình bớt căng thẳng, khi mà nỗi lo hết tiền không nhiều như ở Mỹ. Bởi nỗi lo đó mà những người Mỹ về hưu thường tìm nhiều cách để phụ thêm vào thu nhập hưu trí của mình.

Điểm then chốt

  • Cả Canada và Mỹ đều cho phép công dân của mình mở tài khoản hưu trí lợi thế về thuế: Tài khoản RRSP và TFSA của Canada tương tự như tài khoản IRA truyền thống (Traditional IRS) và tài khoản Roth IRA.
  • Tài khoản hưu trí của Canada có hạn mức đóng góp lớn hơn và ít giới hạn đóng góp hơn.
  • Kế hoạch hưu trí chính của Canada dành cho người lớn tuổi (CPP), quỹ người già (Old Age Security) được trích ra từ ngân sách thuế chung, trong khi Quỹ an sinh xã hội Mỹ (America’s Social Security) được trích ra từ thuế lương.
  • Bảo hiểm sức khỏe dành cho cá nhân sẵn cho tất cả công dân Canada; trong khi đó hệ thống chăm sóc sức khỏe dành cho cá nhân chỉ dành cho các cá nhân trên 65 tuổi và trang trải một phần nhỏ cho các chi phí y tế.
  • Người Canada thường phải trả thuế nhiều hơn người Mỹ.

Lợi ích chính dành cho người Canada chính là hệ thống chăm sóc sức khỏe công cộng cung cấp cho người dân các dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản cả đời mà không phải trả thêm hoặc trả một phần. Ngược lại, nếu không bị tàn tật hay có thu nhập cực  thấp, thì người Mỹ sẽ không có bảo hiểm y tế miễn phí do chính phủ cung cấp cho tới khi họ 65 tuổi, lúc đó họ đủ điều kiện để tham gia Medicare. Mà đó vẫn chưa phải là chăm sóc sức khỏe toàn diện. Medicare mới chỉ chi trả khoảng 62% chi phí y tế. Theo một nghiên cứu năm 2019 được thực hiện bởi Viện nghiên cứu lợi ích của người lao động ước tính một số cặp đôi 65 tuổi, không có bảo hiểm lao động, sẽ cần tới gần 363,000$ mới có thể thoải mái chi trả các chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe khi nghỉ hưu.

Sự khác nhau cơ bản của kế hoạch hưu trí

Khi tiết kiệm cho kế hoạch hưu trí, cả người Canada và người Mỹ đều được hưởng những lợi ích về tài chính và thuế tương tự.

RRSP của Canada và IRA truyền thống của Mỹ

Ở Canada, RRSP cho phép nhà đầu tư được khấu trừ thuế vào năm mà họ đóng góp. Khoản tiền đầu tư trong tài khoản đó sẽ được hoãn thuế, điều này sẽ giúp cho nhà đầu tư được hưởng lợi nhuận kép. Người lao động được đóng góp vào RRSP cho tới khi 71 tuổi, và chính phủ sẽ đặt ra những giới hạn tối đa cho khoản tiền gửi vào tài khoản RRSP (18% lương của người lao động và tối đa lên tới 26,500$ trong năm 2019). Theo CRA (Canada Revenue Agency), khoản tối đa này sẽ tăng lên thành 27,230 vào năm 2020. Các nhà đầu tư có thể gửi tiền vào nhiều hơn, nhưng tổng thêm vào số tiền đó mà vượt quá 2,000$ thì sẽ bị phạt.

Người lao động có thể rút tiền ra ở bất cứ thời điểm nào nhưng sẽ được coi là khoản thu nhập chịu thuế, sẽ phải chịu thuế khấu trừ tại nguồn (withholding taxes). Trong năm mà người nộp thuế sang tuổi 71, RRSP sẽ phải được rút hết ra hoặc được chuyển vào quỹ hưu (annuity) hoặc vào tài khoản RRIF (Registered Retirement Income Fund).

Đối với người nộp thuế Mỹ, IRA truyền thống có cấu trúc với một số lợi ích tương tự, ở đó khoản đóng góp sẽ được khấu trừ thuế và lợi nhuận đầu tư sinh ra được hoãn thuế cho tới khi khoản đóng góp được rút ra.

Luật SECURE được tổng thống Trump ký vào tháng 12/2019. Đạo luật này loại bỏ độ tuổi tối đa được đóng góp vào IRA truyền thống trước đây là 70.5 tuổi.

Tuy nhiên, người Mỹ bước sang tuổi 70.5 trong năm 2019 vẫn sẽ cần rút một khoản tối thiểu theo yêu cầu (required minimum distributions – RMD) vào năm 2020 hoặc nếu không sẽ bị phạt 50% số tiền phải rút tối thiểu. Những người sang tuổi 70.5 vào năm 2020 sẽ không bị yêu cầu rút RMD cho tới khi họ 72 tuổi. Khoản rút đầu tiên cần thực hiện trước ngày 1 tháng 4, do đó các cá nhân sang tuổi 70.5 trong năm 2019 có thể đợi để rút RMD của mình cho tới ngày 1 tháng 4 năm 2020. Họ sẽ được yêu cầu để rút RMD khác vào ngày 31 tháng 12 sau đó, và mỗi ngày 31 tháng 12 hàng năm.

Khoản đóng góp vào IRA cũng sẽ giới hạn nhiều hơn. Trong năm 2019 và 2020, IRS thông báo rằng khoản đóng góp tối đa có thể gửi vào cả IRA truyền thống và Roth IRA, là dưới 6,000$, hoặc khoản bù trừ thuế cho năm đóng thuế. Những người trên 50 tuổi có thể gửi thêm 1,000$ một năm vào IRA của mình. Ngoài ra, IRA cũng phạt nếu như quỹ đó được rút ra trước khi người nộp thuế đủ 59.5 tuổi.

Với kế hoạch 401(k) so với RRSP: Khoản tiền tối đa gửi vào trong năm 2020 là 19,500$, hoặc là 26,000$ cho những người trên 50 tuổi. Theo tỷ giá ngoại hối năm 2020, 26,500CAD sẽ xấp xỉ bằng với 19,000 USD.

Mặc dù RRSP cho phép một khoản đóng góp lớn hơn, nhưng những người giàu Canada thường có xu hướng phải đóng thuế nhiều hơn những người hàng xóm phía nam của mình.

TFSA Canada và Roth IRA Mỹ

TFSA của Canada tương tự với Roth IRA ở Mỹ. Cả hai phương tiền dành cho hưu trí này đều là tài khoản sau thuế (không được khấu trừ thuế khi gửi vào), nhưng tăng trưởng của các tài khoản này đều miễn thuế khi rút ra. Người Canada trên 18 tuổi có thể gửi tới 6,000$ vào tài khoản TFSA của mình trong năm 2019; Nếu như bạn 18 tuổi vào năm 2009, và tới năm 2019 bạn mới gửi lần đầu vào TFSA thì bạn có thể gửi tới 63,500$. Khoản tối đa đóng góp hàng năm  vào Roth IRA cũng là 6,000$ hoặc 7,000 đối với người trên 50 tuổi. Điểm tương đồng giữa các tài khoản này: Không có giới hạn khi nào thì ngưng được gửi tiền vào và khi nào thì cần phải bắt đầu rút tiền ra.

TFSA có hai điểm thuận lợi hơn Roth IRA. Những người Canada trẻ tuổi tiết kiệm khi nghỉ hưu có thể mang theo khoản đóng góp chưa dùng đến của mình cho cá năm sau, trong khi đó lựa chọn này không có đối với Roth IRA. Ví dụ, nếu một người nộp thuế 35 tuổi và không thể gửi 6,000$ vào tài khoản của mình, bởi vì lý do nào đó, thì năm sau, tổng tiền tích lũy mà họ có thể gửi vào là 12,000$. Giới hạn số tiền gửi vào thay đổi theo từng năm kể từ khi TFSA được công bố vào năm 2009,, với giới hạn ở trong khoảng từ 5,000$ tới 10,000$; và khoản giới hạn tích lũy từ năm 2009 tới 2019 là 63,500$.

Lợi thế thứ hai của TFSA, trong khi khoản đóng góp có thể được rút ra ở bất cứ thời điểm nào. thì khoản rút ra từ Roth IRA cần phải “đủ điều kiện” để tránh thuế. Khoản đóng góp đủ điều kiện là những khoản được gửi vào sau khi tài khoản đã mở được 5 năm, và người nộp thuế đó phải là tàn tật hoặc hơn 59.5 tuổi. Kế hoạch TFSA của Canada linh hoạt hơn trong việc cung cấp những lợi ích này cho những người lập kế hoạch hưu trí.

Kế hoạch hưu trí giữa Canada với Mỹ

Điểm khác nhau giữa lương hưu của chính phủ

Cả Mỹ và Canada đều cung cấp cho người lao động một khoản thu nhập đảm bảo khi họ tới tuổi nghỉ hưu.Tuy nhiên, các kế hoạch hưu trí liên bang này sẽ khác nhau ở nhiều điểm.

Quỹ người già của Canada (Old Age Security) khác với quỹ an sinh xã hội Mỹ (Social Security)

Canada có hệ thống bên thứ ba: Quỹ người già (OAS), được cấp tiền từ những đồng thuế, cung cấp lợi ích dành cho người Canada đủ 65 tuổi trở lên; CPP (Canada Pension Plan) được cấp tiền từ khấu trừ lương  (gióng với Quỹ an sinh xã hội – Social Security -ở Mỹ) có những lợi ích sẵn cho những người 60 tuổi; và Nguồn thu nhập đảm bảo (GIS- Guaranteed Income Supplement) sẵn có dành cho những người Canada nghèo nhất.

OAS cung cấp lợi ích cho các công dân tư 65 tuổi trở lên. Mặc dù có những quy định phức tạp để xác định khoản tiền lương hưu, nhưng thông thường một người sống ở Canada đủ 40 năm, sau khi đủ 18 tuổi, thì sẽ đủ điều kiện để nhận đầy đủ tiền già (vào năm 2020) là 613.53 mỗi tháng. Thêm vào đó, GIS (551,63$ hay 916.38$, tùy thuộc vào tình trạng hôn nhân) và khoản phụ cấp (1,165.16$) sẽ được trả co những người nghỉ hưu với thu nhập hàng năm từ 18,600$ tới 34,416$. Giống với Quỹ an sinh xã hội Mỹ, OAS mang lại ích lợi cho những người chọn hoãn nhận lợi ích có thể được trả cao hơn, gần đâu, những lợi ích có thể được hoãn lại tới 05 năm, và tới 70 tuổi. Lợi ích của OAS cũng được coi là khoản thu nhập chịu thuế và có một số quy định dành cho người có thu nhập cao.

Để có được chế độ chăm sóc y tế toàn dân và chế độ hưu trí toàn dân, Canada áp mức thuế thu nhập cho công dân của mình cao hơn Mỹ.

Trong khi đó, quỹ an sinh xã hội Mỹ, không chỉ tập trung vào việc chi trả thu nhập hưu trí, mà còn bao gồm các lĩnh vực khác như thu nhập dành cho người khuyết tật, lợi ích sống còn, và Medicare (trong phạm vi mà phí bảo hiểm Medicare được đưa ra khỏi lợi ích an sinh xã hội). Thuế thu nhập từ quỹ an sinh xã hội phức tạp hơn chút và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng hôn nhân và có hay có thu nhập từ nguồn khác; thông tin cung cấp trong mẫu biểu SSA-1099 sẽ xác định thuế suất từ lợi ích này.

Những cá nhân đủ điều kiện để phần một phần lợi ích khi 62 tuổi và hưởng đầy đủ lợi ích (3,011$ mỗi tháng là khoản tối đa năm 2019) khi họ 66 hoặc 67 tuổi, tùy thuộc vào năm sinh. Đủ điều kiện được xác định thông qua hệ thống tín nhiệm, ở đó những người nhận đủ điều kiện phải có tối thiểu 40 credit, và họ có thể kiếm thêm credit để tăng khoản tiền được nhận bằng cách hoãn lại khoản nhận đầu tiên cho tới khi họ 70 tuổi.

Nhìn chung, các chương trình hưu trí của Canada được coi là an toàn hơn, khi các chương trình được trích từ quỹ nộp thuế chung. Có những lo ngại ở Mỹ với hệ thống an sinh xã hội, nơi được trích quỹ thông qua thuế từ tiền lương của những người đi làm, sẽ bị phá sản.

Điều khoản miễn trừ trách nhiệm: Các thông tin được đăng tải trên chỉ mang TÍNH CHẤT THAM KHẢO chứ không mang TÍNH CHẤT TƯ VẤN. Bạn đọc sẽ là người ra quyết định cuối cùng và là người chịu trách nhiệm với bất cứ khoản đầu tư nào của mình. Bạn biên tập sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào liên quan tới các quyết định đầu tư của bạn đọc.


Hãy theo dõi VietRiches trên Facebook và Twitter để luôn được cập nhật những thông tin mới nhất về tài chính và đầu tư.