Home Đầu tư Cách tính thuế với các khoản đầu tư vào quỹ tương hỗ...

Cách tính thuế với các khoản đầu tư vào quỹ tương hỗ (mutual fund)

281
0
Lợi nhuận đầu tư (capital gain)

Rất nhiều nhà đầu tư hỏi về cách tốt nhất để tính thuế đối với khoản đầu tư vào quỹ tương hỗ (mutual fund). Quỹ tương hỗ mutual fund được coi như những tài khoản chịu thuế có rất nhiều việc cần làm với các khoản đầu tư theo danh mục của quỹ.

Nhìn chung, hầu hết các khoản phân phối mà bạn nhận được từ quỹ mutual fund cần phải được khai báo như khoản thu nhập đầu tư trong năm tài chính của bạn. Tuy nhiên, tùy thuộc vào khoản phân phối mà bạn nhận được, thời gian đầu tư, và khoản đầu tư là những yếu tố quan trọng trong viẹc xác định bạn cần đóng bao nhiêu thuế cho mỗi đồng mà bạn được phân phối.

Trong một số trường hợp, các khoản phân phối cần tuân theo thuế suất thông thường của bạn, đó là tỷ lệ cao nhất. Trong một số trường hợp khác, bạn có đủ điều kiện để trả thuế với mức thuế suất cho lợi nhuận đầu tư thấp hơn. Có những khoản phân phối mà bạn hoàn toàn không phải đóng thuế.

Điểm then chốt

Các mutual fund tạo ra rất nhiều khoản lợi nhuận đầu tư trong ngắn hạn, bị đánh thuế ở tỷ lệ thu nhập thông thường (chứ không phải thu nhập từ đầu tư), có thể làm tốn nhiều chi phí cho bạn.

Bạn cần biết cách tính toán khoản phân phối của bạn thuộc khoản lợi nhuận chứ không phải là khoản đầu tư.

Hiểu được sự khác nhau giữa Cơ sở chi phí (cost basis) và Cơ sở trung bình (average basis).

Thu nhập cổ tức bị đánh thuế như thu nhập thông thường ngoại trừ một số cổ tức và cổ phiếu đủ điều kiện để nhận lãi suất miễn thuế.

Thu nhập thông thường và lợi nhuận đầu tư

Sự khác nhau giữa thu  nhập thông thường và lợi nhuận đầu tư có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong hóa đơn thuế của bạn. Trong ngắn hạn, chỉ những thu nhập đầu tư mà bạn nắm giữ hơn một năm mới được coi là lợi nhuận đầu tư.

Khái niệm này khá đơn giản khi đầu tư vào các cổ phiếu riêng lẻ. Tuy nhiên, với các quỹ tương hỗ (mutual fund) thì việc đó lại khá là phức tạp.

Các tương hỗ (mutual fund) là các công ty đầu tư, họ đầu tư thông qua việc lựa chọn hàng ngàn cổ phiếu được gọi là danh mục đầu tư. Khi phân phối lợi nhuận, sự khác nhau giữa thu nhập thông thường và lợi nhuận đầu tư không phải là bạn đã sở hữu đơn vị cổ phiếu trong quỹ bao lâu mà là quỹ đó đã năm giữ các khoản đầu tư riêng lẻ trong danh mục của họ bao lâu.

Nếu bạn nhận khoản phân phối từ một quỹ do việc bán một cổ phiếu của quỹ nắm giữ chỉ trong 6 tháng, thì khoản phân phối đó của bạn sẽ phải đóng thuế theo tỷ suất thuế thu nhập thông thường. Tuy nhiên, nếu quỹ đó nắm giữ cổ phiếu đã nhiều năm, thì sau khi bán, khoản phân phối cho bạn sẽ được đóng thuế theo thuế suất của lợi nhuận đầu tư.

Tại sao điều này trở nên quan trọng?

Sự khác nhau giữa thuế suất thu nhập thông thường với thuế suất của lợi nhuận đầu tư khá lớn (luật thuế Mỹ). Đó chính là lý do tại sao việc quan trọng là cần phải theo dõi nguồn thu nhập của bạn đến từ đâu để được thuế suất thấp. Năm 2019, những người nằm trong khung đóng thuế thu nhập 10% và 12% không phải trả bất kỳ khoản thuế thu nhập nào cho các khoản lợi nhuận đầu tư dài hạn. Các cá nhân trong khung thuế 22% tới 35% phải trả 25% thuế cho các khoản lợi nhuận đầu tư. Những người trong khung thuế cao nhất 37% thì phải trả 20% thuế cho các khoản lợi nhuận đầu tư.

Chỉ rõ các khoản lỗ và lãi của bạn

Nếu bạn bán các cổ phần của bạn trong một mutual fund, bất kỳ khoản tiền nào thu được là khoản đầu tư ban đầu của bạn thì sẽ không phải đóng thuế, bạn chỉ phải trả thuế thu nhập cho những đồng đô la mà bạn kiếm lời được. Bởi vì vậy, điều quan trọng là bạn cần tính toán được khoản phân phối của bạn là lợi nhuận chứ không phải khoản đầu tư.

Để xác định khoản thu nhập từ đầu tư của bạn là lỗ hay lãi, đầu tiên bạn cần phải biết bạn đã trả bao nhiêu cho các cổ phiếu đã được bán ra. Điều này gọi là Cơ sở (basic). Bởi vì các cổ phiếu mutual fund được mua vào ở các thời điểm khác nhau, với lượng khác nhau, và giá khác nhau, thì bạn khó có thể xác định được bạn đã trả bao nhiêu cho các cổ phiếu đã nhận.

Cơ sở chi phí (Cost basis) và Cơ sở trung bình (average basis)

Có hai cách mà cơ quan thuế cho phép người nộp thuế xác định Cơ sở cho thu nhập đầu tư của mình: đó là Cơ sở chi phí và Cơ sở trung bình.   

Nếu như bạn biết giá mà bạn bạn đã trả cho các cổ phiếu đã bán, thì bạn có thể dùng cách Cơ sở chi phí. Tuy nhiên, nếu bạn sở hữu nhiều cổ phiếu được mua ở các thời điểm khác nhau, phương pháp này tốn khá nhiều thời gian. Thay vì vậy, bạn có thể dùng cách Cơ sở chi phí mua vào trước thì bán trước (First-in, first-out cost basis), cách mà bạn có thể dùng giá của những cổ phiếu mua trước là cơ sở cho những cổ phiếu bán trước, và cứ tiếp tục như vậy.

Nếu bạn không thể xác định được giá mà bạn đã trả cho một số cổ phiếu cụ thể, bạn có thể chọn cách Cơ sở trung bình (average basis), cách này có thể cho phép bạn sử dụng chi phí tổng hợp của tất cả những cổ phiếu như là Cơ sở chi phí cho mỗi cổ phiếu mà bạn sẽ bán. Tuy nhiên, tất cả các cổ phiếu mutual fund phải giống hệt nhau để sử dụng cách này, có nghĩa là bạn không thể dùng phương pháp cơ sở trung bình để tính toán lợi nhuận của bạn nếu như một phần cổ phiếu của bạn tái đầu tư, trong khi những cổ phiếu khác thì không.

Giống như thu nhập đến từ việc bán bất cứ khoản đầu tư nào khác của bạn, nếu bạn sở hữu các cổ phần của quỹ mutual fund từ một năm trở lên, bất cứ lợi  nhuận hay thua lỗ nào thu được qua việc bán những cổ phần này được coi là lợi nhuận đầu tư dài hạn (long-term capital gains). Còn lại, thì các khoản lợi nhuận đó sẽ được coi là thu nhập thông thường.

Các khoản phân phối cổ tức

Ngoài việc phân phối thu nhập tạo ra bằng việc bán các tài sản, các quỹ mutual funds cũng phân phối cổ tức khi các tài sản cơ bản trả tiền lời hoặc lãi suất. Các quỹ mutual funds là những khoản đầu tư  thông qua (pass-through), điều này có nghĩa là bất cứ khoản thu nhập nào mà họ nhận được đều được phân phối tới các cổ đông. Điều này thường xảy ra khi quỹ nắm giữ các cổ phiếu hoặc trái phiếu chịu trả cổ tức, có nghĩa là công ty đó sẽ trả một lượng lãi xuất nhất định hàng năm, được gọi là coupon.

Khi một công ty tuyên bố chia cổ tức, công ty đó cũng sẽ tuyên bố ngày chia cổ tức và ngày chi trả. Ngày chi trả là ngày mà một công ty xem xét danh sách cổ đông để biết ai sẽ nhận được cổ tức. Bởi vì có thời gian trễ khi giao dịch cổ phiếu, nên bất cứ việc mua bán cổ phiếu nào cũng sẽ diễn ra chậm hơn ba ngày trước ngày chi trả không được đăng ký, và danh sách các cổ đông vẫn bao gồm cả tên của những nhà đầu tư đang bán. Ba ngày trước ngày chi trả là ngày trả cổ tức cũ (ex-dividend date).

Phân phối cổ tức được tính thuế thế nào?

Nhìn chung, thu nhập từ cổ tức cần phải đóng thuế như thu nhập thông thường. Nếu quỹ của bạn mua bán các cổ phiếu chia cổ tức thường xuyên, nhiều khả năng là các cổ tức mà bạn nhận được sẽ phải đóng thuế giống như các khoản thu nhập thông thường. Ví dụ, giả sửa bạn nhận 1,000$ tiền cổ tức chi trả từ quỹ quản lý chủ động (actively manaded fund). Nếu bạn ở trong ngưỡng nộp thuế thu  nhập 24%, bạn sẽ phải trả 240$ tiền thuế.

Tuy nhiên, có hai ngoại trừ rất quan trọng ở đây: Cổ tức đủ điều kiện và thu nhập miễn thuế.

Cách tính thuế

 Cổ tức đủ điều kiện

Phân phối cổ tức mà bạn nhận được từ quỹ mutual fund của bạn có thể chịu thuế lợi nhuận đầu tư nếu chúng được coi là các cổ tức đủ điệu kiện theo cơ quan thuế. Để đáp ứng đủ điều kiện, cổ tức cần phải được thanh toán bằng cổ phiếu bởi một công ty Mỹ hay công ty nước ngoài đủ điều kiện. Ngoài ra, quỹ mutual fund của bạn cũng cần nắm giữ cổ phiếu hơn 60 ngày trong khoảng thời gian 121 này bắt đầu từ 60 ngày ngày trả cổ tức cũ.

Ngày trả cổ tức cũ là ngày sau khi mà chủ sở hữu của cổ phiếu mới mua không đủ điều kiện để nhận cổ tức. Ví dụ, nếu ngày chia cổ tức cũ là ngay 12/4, thì bất cứ nhà đầu tư nào mua cổ phiếu vào hoặc sau ngày này thì sẽ không nhận được cổ tức sẽ chia sắp tới.

Điều này nghe có vẻ khó hiểu, nhưng điều quan trọng là quỹ cần phải sở hữu cổ phiếu 60 ngày trước ngày chi cổ tức cũ hoặc tổng là ít nhất 60 ngày trước và sau ngày chia cổ tức cũ. Yêu cầu phức tạp này ngăn cản các nhà đầu tư mua quỹ để được chia cổ tức trước khi cổ tức được trả và bán ngay sau khi nhận được cổ tức. với mục đích chỉ để nhận được cổ tức.

Lãi suất miễn thuế (tax – free interest)

Cách khác để làm giảm hóa đơn thuế thu nhập của bạn là đầu tư vào các quỹ mutual funds miễn thuế. Những quỹ này đầu tư vào trái phiếu chính phủ và thành phố, mà lãi suất được trả sẽ miễn thuế. Ví dụ, các quỹ mutual funds đầu tư vào thị trường tiền tệ (money morket mutual funds) sẽ đầu tư vào các trái phiếu chính phủ ngắn hạn và được coi là những khoản đầu tư ổn định và an toàn.

Tuy nhiên, trong khi các trái phiếu thành phố trả lãi suất được miễn thuế liên bang, nhưng lãi suất đó có thể không được miễn thuế tỉnh bang hoặc thuế thu nhập địa phương. Trong một số trường hợp, lãi suất được chả cho trái phiếu phát hành bởi chính phủ mà bạn sống có thể được miễn thuế ba cấp độ, điều đó có nghĩa là trái phiếu đó sẽ không phải đóng bất cứ loại thuế nào. Tuy nhiên, bạn cần kiểm tra lại quỹ mà có đầu tư vào trái  phiếu trong danh mục của họ xem có miễn thuế không và miễn thuế ở cấp độ nào để tránh những khoản thuế không mong muốn.

Lời cuối

Cách tính thuế cho các khoản thu nhập và phân phối mà bạn nhận được có thể rất phức tạp, ngay cả đối với các nhà đầu tư dày dạn kinh nghiệm Ấn phẩm của cơ quan thuế có thể cung cấp thêm thông tin cho bạn về vấn đề này. Nhưng trừ khi bạn bạn sở hữu chỉ vài loại cổ phiếu và ghi chép lại cẩn thận, bạn sẽ có lợi hơn từ tư vấn của chuyên gia về thuế để đảm bảo tất cả các khoản thu nhập từ đầu tư của bạn được báo cáo phù hợp.

Điều khoản miễn trừ trách nhiệm: Các thông tin được đăng tải trên chỉ mang TÍNH CHẤT THAM KHẢO chứ không mang TÍNH CHẤT TƯ VẤN. Bạn đọc sẽ là người ra quyết định cuối cùng và là người chịu trách nhiệm với bất cứ khoản đầu tư nào của mình. Bạn biên tập sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào liên quan tới các quyết định đầu tư của bạn đọc.


Hãy theo dõi VietRiches trên Facebook và Twitter để luôn được cập nhật những thông tin mới nhất về tài chính và đầu tư.