Home Chứng khoán Quỹ ETF là gì?

Quỹ ETF là gì?

153
0
Các loại quỹ etf

Quỹ ETF là gì?

Quỹ ETF là một loại chứng khoán bao gồm tập hợp nhiều cổ phiếu – thường dùng để theo dõi một chỉ số cơ bản nào đó, mặc dù các quỹ có thể đầu tư vào bất cứ ngành công nghiệp nào hay sử dụng các chiến lược khác nhau. Các ETF có nhiều điểm tương đồng với mutual fund (Quỹ tương hỗ); tuy nhiên, các ETF được liệt kê trên sàn giao dịch và cổ phiếu của các ETF giao dịch trong ngày giống như các cổ phiếu thông thường.

Một trong những ETF được nhiều người biết tới là SPDR S&P 500 ETF (SPY), dùng để theo dõi chỉ số S&P 500. Các ETF có thể có nhiều loại đầu tư, như cổ phiếu, hàng hóa(commodities), trái phiếu, hay là hỗn hợp nhiều loại đầu tư khác nhau. ETF là một cổ phiếu trên thị trường, điều đó có nghĩa là nó có mức giá kèm theo cho phép nhà đầu tư có thể mua hay bán dễ dàng.

Những điểm chính của ETFs

Một ETF là một rổ (giỏ) các cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán, giống như một cổ phiếu vậy.

Giá cả của ETF dao động trong ngày tại thời điểm mà ETF được mua hay bán; đây là điểm khác biệt so với mutual fund, quỹ mà chỉ bán một lần trong ngày khi mà thị trường giao dịch đóng cửa.

ETF có thể bao gồm tất cả các loại đầu tư như cổ phiếu, hàng hóa, hoặc trái phiếu; một số ETF chỉ có các cổ phiếu của Mỹ, trong khi một số khác thì chỉ có cổ phiếu của thị trường nước ngoài.

ETF thương có tỷ lệ chi phí (expense ratios) và hoa hồng môi giới ít hơn là mua các cổ phiếu đơn lẻ.

ETF được gọi là quỹ hoán đổi giao dịch (exchange-traded fund) kể từ khi nó được giao dịch trên thị trường chứng khoán giống như các cổ phiếu. Giá của ETF sẽ thay đổi trong phiên giao dịch (trading day) giống như các cổ phiếu được mua và bán trên thị trường. Điều này không giống như các mutual funds, quỹ mà không giao dịch trên thị trường chứng khoán và chỉ được giao dịch một lần một ngày sau khi thị trường đóng cửa.

Mỗi ETF là một loại quỹ sở hữu nhiều tài sản cơ bản, hơn là chỉ sở hữu một loại cổ phiếu. Bởi vì ETF có bao gồm nhiều tài sản, nên ETF có thể là một trong những lựa chọn phổ biến cho việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Một ETF có thể sở hữu hàng trăm hay hàng ngàn cổ phiếu trong rất nhiều các ngành công nghiệp khác nhau, hoặc nó chỉ nắm giữ trong một ngành hay một chuyên ngành công nghiệp cụ thể. Một số quỹ ETF chỉ tập trung vào thị trường Mỹ, trong khi một số quỹ khác thì tập trung vào thị trường toàn cầu. Ví dụ, những ETF tập trung vào ngân hàng sẽ chỉ gồm cổ phiếu của các ngân hàng trong ngành công nghiệp này.

Các loại ETFs

Có rất nhiều loại ETF khác nhau sẵn có dành cho các nhà đầu tư có thể được dùng để tăng thu nhập, tích trữ, tăng giá, bảo hiểm hay là cân đối một phần rủi ro trong danh mục của nhà đầu tư. Dưới đây là một số loại ETF:

ETF trái phiếu (Bond ETFs) có thể bao gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, và trái phiếu tỉnh bang và địa phương – được gọi là trái phiếu thành phố (municipal bonds).

ETF công nghiệp (Industry ETFs) theo dõi một ngành công nghiệp cụ thể như công nghệ, ngân hàng, hay là dầu khí.

ETF hàng hóa (Commodity ETFs) đầu tư vào hàng hóa ví dụ như dầu thô hay vàng.

ETF tiền tệ (currency ETFs) đầu tư vào các loại tiền nước ngoài như đồng Euro hay đồng đô Canada.

ETF đảo ngược (Inverse ETFs) thường cố gắng kiếm lợi nhuận từ việc suy giảm cổ phiếu (stock declines) bằng việc bán khống cổ phiếu (shorting stocks). Bán khống cổ phiếu là việc bán đi một cổ phiếu (không phải của mình mà đi vay của môi giới), sau đó mong cổ phiếu đó xuống thấp hơn, và mua lại ở giá thấp (để trả lại cho môi giới).

Các nhà đầu tư có thể thấy nhiều Inverse ETFs là Các ghi chú trao đổi giao dịch (Exchange Traded Notes – ETNs, tức là các tài sản nợ không đảm bảo) chứ không phải thực sự là ETFs. ETN là một trái phiếu nhưng giao dịch giống như cổ phiếu và được hỗ trợ bởi một đơn vị phát hành ví dụ như ngân hàng. Bạn cần đảm bảo để kiểm tra lại nhà môi giới của bạn xem liệu ETNs đó có phù hợp với danh mục đầu tư của bạn hay không.

Ở Mỹ, hầu hết các ETFs đặt dưới dạng các quỹ đóng – mở (open-ended funds) và cần tuân theo Đạo luật công ty đầu tư năm 1940 (Investment Company Act) ngoại trừ các quy tắc phụ đã sửa đỏi các yêu cầu theo luật của quỹ. Các quỹ đóng – mở không giới hạn số lượng nhà đầu tư tham gia vào quỹ.

Làm thế nào để mua hay bán ETFs

ETFs giao dịch qua các tài khoản môi giới online và các đại lý môi giới truyền thống. Bạn có thể thấy một số môi giới lớn trong ngày công nghiệp dành cho ETFs trên danh sách mà Investopedia liện kê. Phương án thay thế các nhà môi giới tiêu chuẩn là các robo-advisors giống như Betterment và Wealthfront sử dụng ETFs trong các sản phẩm đầu tư của họ.

Một số ETFs cụ thể

Dưới đây là một số ETFs phổ biến trên thị trường ngày nay. Một số ETFs theo dõi một chỉ số chứng khoán tạo nên một danh mục đầu tư rộng trong khi một số ETFs khác theo dõi những ngành công nghiệp mục tiêu cụ thể.

SPDR S&P 500 (SPY): ETF tồn tại lâu đời nhất và phổ biến nhất theo dõi chỉ số S&P 500.

iShares Russell 2000 (IWM): Theo dõi chỉ số công ty vốn hóa nhỏ Rusell 2000.

Invesco QQQ (QQQ): Chỉ số của Nasdaq 100, bao gồm cổ phiếu của các công ty công nghệ.

SPDR Dow Jones Industrial Average (DIA): Theo dõi cổ phiếu của 30 công ty của Dow Jones Industrial Average.

Sector ETFs: Theo dõi các ngành công nghiệp đơn lẻ như dầu (OIH), năng lượng (XLE), các dịch vụ tài chính (XLF), REITs (IYR), công nghệ sinh học (BBH).

Commondity ETFs: Đại diện cho các thị trường hàng hóa bao gồm dầu thô (USO) và khí gas tự nhiên (UNG).

Physically-Backed ETFs: SPDR Shares (GLD) và iShares Silver Trust (SLV) nắm giữ vàng và bạc vật chất trong quỹ.

Thuận lợi và bất lợi của các ETFs

ETFs có chi phí trung bình thấp hơn so với chi phí đắt đỏ khi các nhà đầu tư mua tất cả các cổ phiếu nắm giữ trong danh mục ETFs. Các nhà đầu tư chỉ cần thực hiện một giao dịch để bán; điều đó sẽ giúp cho phí môi giới hoa hồng thấp hơn so với việc thực hiện vài giao dịch. Các nhà môi giới thường tính tiền hoa hồng cho mỗi giao dịch. Một số nhà môi giới thậm chí còn đưa ra gói giao dịch không mất phí dành cho một số ETFs chi phí thấp để làm giảm chi phí cho các nhà đầu tư trong tương lai.

Tỷ lệ chi phí (expense ratio) của ETF là chi phí để điều hành và quản lý quý. ETFs thường có chi phí thấp khi ETF theo dõi một chỉ số. Ví dụ, nếu ETF theo dõi chỉ số S&P 500, nó bao gồm tất cả 500 cổ phiếu từ những công ty tạo nên S&P, đó là quỹ quản lý thụ động và bớt tốn thời gian hơn. Tuy nhiên, không phải tất cả các ETFs đều theo dõi một chỉ số theo cách thụ động.

Ưu điểm

Tiếp cận nhiều cổ phiếu trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Tỷ lệ chi phí thấp và phí môi giới hoa hồng thấp hơn.

Quản lý rủi ro thông qua tính đa dạng hóa.

ETFs tồn tại tập trung vào nhiều ngành công nghiệp mục tiêu.

Nhược điểm

ETFs quản lý chủ động (actively-managed ETFs) có phí cao.

ETFs tập trung vào ngành công nghiệp riêng lẻ làm giới hạn tính đa dạng.

Thiếu thanh khoản gây cản trở giao dịch.

etf

Các ETFs quản lý chủ động (Actively-Managed ETFs)

Có một số ETFs cũng được quản lý chủ động, các nhà quản lý danh mục sẽ tham gia nhiều hơn vào việc mua bán các cổ phiếu của các công ty và thay đổi các cổ phiếu trong quỹ. Thông thường, một quỹ quan rlys chủ động hơn sẽ thường có tỷ lệ chi phí cao hơn một quỹ ETFs quản lý thụ động (passivelly-managed ETFs). Điều quan trọng là ccs nhà đầu tư cần xác định cách quỹ đó được quản lý như thế nào, đâu là quỹ quản lý chủ động hay đâu là quỹ quản lý thj động, tỷ lệ chi phí, và cân nhắc chi phí so với lợi nhuận để đảm bảo rằng khoản đầu tư của mình đáng giá.

Các ETF chỉ số chứng khoán (Indexed-stock ETFs)

Một ETF chỉ số chứng khoán cung cấp cho các nhà đầu tư với tính đa dạng trong một quỹ chỉ số cũng như có khả năng bán khống (sell short), vay tiền để mua (buy on margin), và trả càng ít càng tốt cho một cổ phiếu khi không có yêu cầu phải gửi vào số tiền tối thiểu. Tuy nhiên, không phải tất cả các ETFs đều đa dạng. Một số ETF tập trung cao độ vào một ngành công nghiệp, hoặc một nhóm cổ phiếu nhỏ, hoặc những tài sản có mối tương quan cao với nhau.

Cổ tức và ETFs

Trong khi các ETFs cung cấp cho các nhà đầu tư với khả năng thu được lợi nhuận khi giá cổ phiếu tăng và giảm, ETFs cũng nhận được lợi ích từ việc công ty chi trả lợi tức. Lợi tức là một phần kiếm được do phân bổ hay được các công ty mà các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu chi trả. Các cổ đông ETF được hưởng tỷ lệ lợi nhuận giống như lãi xuất thu được hay cổ tức được trả, và có thể được nhận phần còn lại trong trường hợp quỹ được thanh lý.

ETFs và thuế

ETF đạt hiệu quả thuế cao hơn một mutual funds khi mà hầu hết việc mua và bán ETFs thông qua sàn giao dịch và nhà tài trợ ETF không phải rút bớt cổ phiếu mỗi khi nhà đầu tư muốn bán, hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới khi nhà đầu tư muốn mua. Việc rút ra các cổ phiếu trong quỹ có thể tạo ra trách nhiệm thuế do đó liệt kê các cổ phiếu trên sàn giao dịch có thể giúp cho chi phí thuế thấp hơn. Đối với mutual fund, mỗi lần nhà đầu tư bán cổ phiếu của mình, cổ phiếu đó sẽ được quỹ mua lại và trách nhiệm thuế xảy ra sẽ được trả bởi các cổ đông của quỹ.

Tác động của ETFs lên thị trường

Khi mà ETFs trở nên phổ biến với các nhà đầu tư, nhiều quỹ mới mở được mở ra dẫn tới khối lượng giao dịch của một số quỹ thấp. Kết quả là các nhà đầu tư khó có thể mua hay bán dễ dàng các cổ phiếu của ETF có khối lượng giao dịch thấp.

Điều đó đã nói lên việc ảnh hưởng của các ETF lên thị trường và liệu nhu cầu đối với các quỹ này có thể làm tăng giá cổ phiếu và tạo thành bong bóng dễ vỡ. Một số ETFs dựa vào các mô hình danh mục chưa được kiểm chứng trên các điều kiện thị trường khác nhau và có thể dẫn tới những xu hướng cực đoan mua vào hoặc rút ra khỏi quỹ, điều đó có tác động tiêu cực tới độ ổn định của thị trường. Qua các cuộc khủng hoảng tài chính, các ETFs đóng vai trò quan trọng khi thị trường sụp đổ và bất ổn định. Vấn đề với các ETFs là yếu tố quan trọng khi thị trường giảm giá vào những thời điểm như tháng 5/2010, 8/2015 và tháng 2/2018.

Tạo mới và rút khỏi ETF (Creation and redemption)

Việc cung cấp các cổ phiếu ETF được quy định thông qua một cơ chế được gọi là Tạo mới và Rút ra, nơi mà bao gồm các nhà đầu tư chuyên biệt lớn được gọi là Những người đóng góp có thẩm quyền (authorized Participants – Aps).

Tạo mới (creation)

Khi một ETF muốn phát hành thêm cổ phiếu, AP sẽ mua các cổ phiếu từ chỉ số – ví dụ như S&P 500 được theo dõi bởi quỹ – và bán hay trao đổi các cổ phiếu đó với ETF để tạo thành cổ phiếu ETF mới có giá trị bằng nhau. Lần lượt, AP sẽ bán những cổ phiếu ETF đó lên thị trường chứng khoán để sinh ra lợi nhuận. Quá trình mà một AP bán những cổ phiếu đó cho các nhà tài trợ ETF (ETF sponsor), để đổi lại cổ phần trong ETF, đó được gọi là Tạo mới.

 Tạo mới khi các cổ phiếu được giao dịch ở giá vượt trội

Tưởng tượng một ETF đầu tư vào những cổ phiếu của S&P 500 và có giá là 101$ cho mỗi cổ phiếu khi phiên giao dịch kế thúc. Nếu giá trị của những cổ phiếu mà chủ sở hữu ETF có chỉ đáng giá 100$ cho mỗi cổ phiếu cơ bản, thì giá 101$ của quỹ giao dịch ở mức giá vượt trội với NAV (net asset value) của quỹ. NAV là một cơ chế kế toán dùng để xác định giá chung của những tài sản hay cổ phiếu trong ETF.

Một AP (người tham gia có thẩm quyền) có động cơ để làm cho giá của ETF trở về trạng thái cân bằng với NAV của quỹ. Để làm như vậy, AP sẽ mua các cổ phiếu mà ETF đó muốn nắm giữ theo danh mục đầu tư trên thị trường và bán các cổ phiếu này cho quỹ để đổi lấy cổ phiếu của ETF. Trong ví dụ này, AP sẽ mua cổ phiếu trên thị trường mở với trị giá 100$ mỗi cổ phiếu, nhưng nhận được các cổ phiếu của ETF đang giao dịch trên thị trường mở với giá 101$. Quá trình này được gọi là Khởi tạo và tăng số lượng cổ phiếu ETF trên thị trường. Nếu mọi thứ khác vẫn giữ nguyên, việc tăng số lượng cổ phiếu trên thị trường có thể làm giảm giá của ETF và mang lại những cổ phiếu quỹ có giá ngang bằng với NAV của quỹ.

Rút ra (Redemption)

Ngược lại, một AP cũng có thể bán ra những cổ phiếu của ETF trên thị trường mở. Sau đó, AP sẽ bán những cổ phiếu này cho nhà tài trợ ETF để trao đổi các cổ phiếu cá nhân mà AP có thể bán trên thị trường mở. Và kết quả là, số lượng cổ phiếu ETF giảm thông qua quá trình Rút ra.

Lượng cổ phiếu ETF thông qua hoạt động Rút ra và Tạo mới là một chức năng điều tiết nhu cầu trên thị trường mà ETF đó giao dịch ở giá thấp hay vượt trội so với tài sản của quỹ.

Rút ra khi các cổ phiếu giao dịch ở mức thấp hơn giá trị

Tưởng tượng một ETF nắm giữ các cổ phiếu theo chỉ số Russell 2000 small-cap index và hiện tại đang được giao dịch ở mức 99$/cổ phiếu. Nếu giá trị các cổ phiếu ETF hiện đang đáng giá 100$/cổ phiếu, thì giá của cổ phiếu ETF đang giao dịch ở mức thấp hơn NAV.

Để cần bằng lại giá của ETF so với giá trị thực NAV của quỹ, một AP sẽ mua vào các cổ phiếu của ETF trên thị trường mở (sàn giao dịch) và bán chúng ngược lại cho các ETF để nhận lại các cổ phiếu theo danh mục đầu tư cơ bản. Trong trường hợp này, AP có thể mua quyền sở hữu của những cổ phiếu đáng giá 100$ trên sàn giao dịch các cổ phiếu ETF với giá 99$. Quá trình này gọi là Rút ra, và làm giảm nguồn cung của các ETF trên thị trường. Khi nguồn cung cổ phiếu ETF giảm, giá sẽ tăng lên và gần với giá trị NAV của quỹ.

Hãy theo dõi VietRiches trên Facebook và Twitter để luôn được cập nhật những thông tin mới nhất về tài chính và đầu tư.

Điều khoản miễn trừ trách nhiệm: Các thông tin được đăng tải trên chỉ mang TÍNH CHẤT THAM KHẢO chứ không mang TÍNH CHẤT TƯ VẤN. Bạn đọc sẽ là người ra quyết định cuối cùng và là người chịu trách nhiệm với bất cứ khoản đầu tư nào của mình. Bạn biên tập sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào liên quan tới các quyết định đầu tư của bạn đọc.