Home Chứng khoán CAN SLIM – một phương pháp chọn cổ phiếu hiệu quả

CAN SLIM – một phương pháp chọn cổ phiếu hiệu quả

Với nhiều nhà đầu tư CAN SLIM là phương pháp không thể thiếu để chọn lựa cổ phiếu đầu tư hiệu quả và bài viết này sẽ mang đến cho bạn thông tin cụ thể về CAN SLIM và làm sao bạn sử dụng nó để chọn lựa cổ phiếu một cách hiệu quả.

132
0

CAN SLIM là gì?

CAN SLIM là từ viết tắt của một phương pháp đầu tư trên thị trường chứng khoán do Willam O’neil nhà sáng lập đồng thời là chủ tịch của tờ báo Investor’s Business Daily, một tờ báo kinh tế của giới đầu tư. Đồng thời là người đứng đầu một tổ chức nghiên cứu đầu tư, William O’neil & Company, Inc phát triển.

Trong quá trình nghiên cứu những cổ phiếu có lợi nhuận cao nhất từ năm 1953 – 1985, Willam O’neil đã tìm ra một hệ thống những đặc tính chung của những cổ phiếu này. 

Những đặc tính mấu chốt cần tập trung vào được tóm tắt trong từ viết tắt CAN SLIM.

C – Current quarterly earnings per share – EPS (Tỉ suất lợi nhuận trên cổ phần) quí hiện tại

A – Annual earnings growth – tăng trưởng lợi nhuận hằng năm

N – New products, New Service, Management, Price High – sản phẩm mới, dịch vụ mới

S – Supply and Demand – Cung và cầu với cổ phiếu.

L – Leading or Laggard – Dẫn đầu hay chậm đằng sau

I – Institutional Sponsorship – sự ủng hộ của các định chế tài chính

M – Market direction – định hướng thị trường

Mặc dù không phải là một công cụ phân tích kĩ thuật, nhưng mô hình CAN SLIM đã kết hợp những khái niệm của cả phân tích kĩ thuật lẫn cơ bản. Phương pháp này được trình bày chi tiết trong cuốn “Làm cách nào để kiếm tiền trên thị trường chứng khoán” – WILLIAM O’NEIL.

Hiểu hơn về CAN SLIM

Sau đây là giải thích 7 chữ cái của phương pháp CAN SLIM

– Lợi nhuận ròng của quí hiện tại (C – Current quarterly earnings per share)

EPS của quí hiện tại nên >= 20% so sánh với cùng kì năm trước (ví dụ: quí 1 năm 2011 với quí 1 năm 2010)

– Tăng trưởng lợi nhuận hằng năm (A – Annual earnings growth)

Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) trong vòng 5 năm qua nên tăng ít nhất 15% / năm. Tốt hơn hết, EPS nên tăng hằng năm. 

Tuy nhiên, xét trong một năm đơn, cũng có thể chấp nhận được nếu EPS phục hồi nhanh và quay trở về một ngưỡng mới cao hơn.

– Sản phẩm mới, dịch vụ mới (N – New products, New Service, Management, Price High)

Một sự tăng mạnh mẽ trong mức giá của cổ phiếu thường đi kèm với một vài điều gì “MỚI”. Đó có thể là sản phẩm hoặc dịch vụ, giám đốc điều hành mới, công nghệ mới, hoặc có thể là một mức giá mới cao hơn.

Một trong những kết luận đáng ngạc nhiên của O’neil từ nghiên cứu của mình là đi ngược với điều mà rất nhiều nhà đầu tư khác. 

Thay vì theo quan điểm lâu đời trên thị trường “mua thấp bán cao”, O’neil thì cho rằng “Mua cao bán cao hơn”. 

Những nghiên cứu của Oneil cho thấy thời gian để mua một cổ phiếu tại thời điểm nó bật lên một ngưỡng giá mới thường tích lũy từ 2 đến 15 tháng. Một vài sự tăng giá mạnh mẽ đi theo những ngưỡng phá vỡ, bởi vì có thể do thiếu ngưỡng kháng cự.

– Số lượng cổ phiếu lưu hành (S – Supply and Demand)

Hơn 95% cổ phiếu Oneil nghiên cứu từ những cổ phiếu tăng mạnh hơn thị trường có ít hơn 25 triệu cổ phiếu lưu hành. Sử dụng một nguyên tắc đơn giản của cung và cầu, sự giới hạn trong nguồn cung cổ phiếu là động cơ để giá tiến lên một mức giá mới.

Một khối lượng lớn người mua (cầu) thường yêu cầu khoảng 400 triệu cổ phiếu lưu hành. Tuy nhiên, một số lượng người mua mới đẩy giá cổ phiếu với chỉ 4 đến 5 triệu cổ phiếu (đặc biệt nếu một số lượng lớn là do cổ đông nội bộ nắm giữ).

– Cổ phiếu dẫn đầu (L – Leading or Laggard )

Mặc dù không bao giờ có một cổ phiếu tăng mãi, nhưng O’neil nhận thấy rằng có thể chắc chắn tăng cơ hội kiếm lời của bạn nếu giao dịch cổ phiếu dẫn đầu trong ngành nghề dẫn đầu.

Ông ta cũng nhận thấy rằng những cổ phiếu tốt này thường hoạt động tốt hơn phần lớn những cổ phiếu còn lại trên thị trường.

– Sự ủng hộ của những tổ chức tài chính (I – Institutional Sponsorship)

Một trong những nguồn lớn cung và cầu trên thị trường đến từ những tổ chức (ví dụ: quĩ tương hỗ, ngân hàng, công ty bảo hiểm …). 

Một cổ phiếu không cần một số lượng lớn những tổ chức ủng hộ, nhưng sự ủng hộ của những tổ chức đó chắc chắn sẽ mang lại một lợi thế cho cổ phiếu. O’neil tìm những cổ phiếu có khoảng 3 đến 10 tổ chức tốt như vậy.

Tuy nhiên, có quá nhiều tổ chức tài trợ cũng sẽ có hại. Mọi thứ sẽ trở nên quá trễ một khi cổ phiếu bị mua quá nhiều. 

Nếu 70-80% số lượng cổ phiếu lưu hành được nắm giữ bởi tổ chức, mọi thứ sẽ hết. Kết quả của việc tăng sở hữu của tổ chức quá mức có thể xem như là một tin xấu để bán cổ phiếu đi.

O’neil cảm thấy ý tưởng mua cổ phiếu khi nó vừa được phát hiện có một vài tổ chức chất lượng tài trợ, nhưng trước khi nó trở thành cổ phiếu quá phổ biến nó phải xuất hiện trên danh sách nóng của mỗi tổ chức.

– Sự định hướng thị trường (M – Market direction)

Đây là phần quan trọng nhất trong công thức này. Cổ phiếu tốt nhất vẫn có thể giảm giá nếu thị trường chung sụt giảm. Khoảng 75% cổ phiếu chuyển động theo thị trường chung. 

Điều này có nghĩa nếu bạn mua cổ phiếu với những tiêu chuẩn hoàn hảo, nhưng nếu quyết định sai hướng đi của thị trường chung, cổ phiếu của bạn cũng sẽ thua lỗ.

Chỉ số thị trường được thiết kế giúp bạn xác định các điều kiện tổng thể của thị trường. Ông nói: 

“Hãy học cách giải thích của biểu đồ giá và khối lượng hàng ngày của toàn thị trường. Nếu làm được như vậy bạn không bị rời xa thị trường, bạn thực sự chẳng cần quá nhiều thứ khác; còn không, bạn sẽ đi ngược với xu hướng của thị trường”.

CAN SLIM

Hãy theo dõi VietRiches trên Facebook và Twitter để luôn được cập nhật những thông tin mới nhất về tài chính và đầu tư.